Thấy một trường hợp được lan truyền trên mạng, ban đầu tôi còn tưởng là giả, nhưng phát hiện ra là thật, nội dung vụ án đại khái là:
Có một cô gái 12 tuổi, tố cáo cha ruột của mình hiếp dâm cô. Không có bằng chứng vật lý của vụ hiếp dâm, chỉ có lời khai của chính cô. Mặc dù có các lời khai của nhân chứng khác, nhưng bản chất của những lời khai này không phải là độc lập, mà đều nghe cô gái này nói cha cô hiếp dâm cô, thuộc loại đã nghe lời tố cáo của cô gái này rồi lặp lại lời nói của cô gái.
Cha cô phủ nhận việc hiếp dâm.
Có thể nói, trong toàn bộ vụ án, chỉ có lời khai của cô gái này, không có bằng chứng nào khác, và người bị tố cáo (tức là cha cô) đã phủ nhận.
Nhưng tòa án đã tuyên án với lý do “không thể biết được nếu không trải qua”, xác định tội hiếp dâm đã thành lập, cha cô bị kết án 14 năm tù.
Không chỉ vậy, trường hợp này còn được Tòa án tối cao đưa vào kho lưu trữ案例法院, như là một trường hợp điển hình công bố ra xã hội, và để các tòa án sau tham khảo khi xử lý các vụ án tương tự.
Về cách suy nghĩ phán quyết của tòa án này, cá nhân tôi không hoàn toàn đồng ý.
Lý do “không thể biết được nếu không trải qua” được áp dụng khi tuyên án, về bản chất là từ bỏ yêu cầu chứng minh trong các vụ án hình sự, cùng với các quy định về nghi ngờ vô tội, mà chủ yếu dựa vào nhận thức tự do của những người làm vụ án, tức là họ tin ai, người đó sẽ là có tội, hoặc vô tội.
Độ chính xác của kết quả vụ án không còn phụ thuộc vào quy tắc chứng cứ nghiêm ngặt, mà phụ thuộc vào nội tâm của những người làm vụ án.
Cách làm này, tôi cho rằng đã mang lại tác động tiêu cực nghiêm trọng đến tính công bằng, độ chính xác và khả năng dự đoán của việc xét xử các vụ án.
Ngay cả trong các vụ án dân sự thương mại mà yêu cầu về chứng cứ không quá cao, cũng rất ít thẩm phán dám chỉ dựa vào nội tâm và nhận thức tự do của mình để đưa ra phán quyết cuối cùng cho vụ án, mà trong các vụ án hình sự có yêu cầu chứng cứ cao hơn, thẩm phán lại có thể chỉ dựa vào nội tâm và nhận thức tự do của mình để xét xử, cách làm này thật khó hiểu.
Thậm chí còn cảm thấy có chút vô lý.
Đi kiện cần có chứng cứ.
Khi hai bên vụ án mô tả về một sự việc giống nhau mà hoàn toàn khác nhau, thì nên xem xét chứng cứ.
Quy tắc chứng cứ là cách xác định sự thật công bằng nhất, hiệu quả nhất mà nhân loại đã phát minh ra trước khi có máy thời gian.
Có chứng cứ thì phán, không có chứng cứ thì không phán, đó là nguyên tắc cơ bản. Nếu chỉ dựa vào nội tâm và nhận thức tự do của người xét xử, thì sẽ có thể xác định sự thật một cách tùy tiện, điều này sẽ mang lại tác động tiêu cực lật đổ đến tính dự đoán, độ chính xác của toàn bộ hệ thống.
Ngoài ra, trong trường hợp không có vật chứng, chỉ có lời khai, và lời khai của hai bên hoàn toàn không thống nhất, cá nhân tôi lại đề nghị nên đưa vào chế độ hỏi chéo.
Tức là cả hai bên công tố và bào chữa, sẽ lần lượt thực hiện hỏi chéo đối với nhân chứng.
Khi hai người về cùng một sự việc có lời nói hoàn toàn khác nhau, chắc chắn có một người đang nói dối.
Lời dối trá chỉ có thể bị vạch trần trong điều kiện đối chất. Sự thật cũng chỉ có thể được phát hiện trong điều kiện hỏi chéo và đối chất.
Chứ không phải là nói rằng, trong điều kiện chưa có hỏi chéo và đối chất, bạn tin ai thì cứ tin người đó.
Người xét xử nên phán quyết theo quy tắc, chứ không phải theo suy nghĩ của mình.
Cái trước là pháp trị, cái sau là nhân trị, cho dù họ có mặc một bộ áo thẩm phán.
$BNB $BTC $ETH